Welcome to Vietnamese Culture. I hope you have a happy day! Chào mừng các bạn đến với Văn Hóa Việt Nam. Chúc các bạn có một ngày hạnh phúc. Nếu bạn ghé thăm lần đầu, hãy đọc mục giới thiệu blog phía dưới để khai thác blog này hiệu quả hơn. Các bạn có thể yêu cầu bài viết về mọi chủ đề, tôi sẽ tìm tài liệu và viết bài hoàn chỉnh cho các bạn. Hiện nay, hoàn toàn miễn phí! DOWNLOAD ĐH CẦN THƠ SÁCH NÓI PHIM HAY VIETNAMNET DịchThuậtSH Bệnh Thú Kiểng MuaSách Vietruyengan

Thứ Bảy, 31 tháng 7, 2010

Đấu Trường Và Cuộc Sống

Trên một bức tường cũ kỹ của một đấu trường cổ ở La Mã, người ta đã đọc được những dòng chữ sau : "Sai lầm luôn nên tránh nhưng nếu đã phạm phải sai lầm thì đó là điều cần thiết và không nuối tiếc."

Sự thành công hay chiến thắng không có nghĩa là không lần nào vấp ngã. Đó là minh chứng rằng người đó đã nếm trải thất bại rất nhiều lần. Nếu ai đó cho rằng mình chưa từng vấp ngã hoặc thất bại, thì điều đó sẽ là một tiên đoán chắc chắn cho một vấp ngã và thất bại lớn trong tương lai.

Vinh quang thuộc về những người chiến đấu trên đấu trường với khuôn mặt thấm đẫm nhuệ khí, bụi bặm, mồ hôi, máu và nước mắt.

Lòng tự hào thuộc về những con người chiến đấu dũng cảm không khoan nhượng, không lùi bước trước hiểm nguy, biết vượt qua nỗi sợ hãi và đớn đau của khó khăn. Họ hiểu rõ không có chiến thắng nào mà không có những đau thương khốc liệt. Sự vĩ đại chân chính luôn thuộc về những người can đảm bản lĩnh, sẵn sàng sống hết mình cho mục đích và có lúc biết quên mình cho sự mạo hiểm đúng lúc.

Những con người biết vượt qua khó khăn nghịch cảnh, thử thách, biết thay đổi tình thế, dám đương đầu với thách thức sẽ có được một tầm nhìn, phong cách, uy lực mới, đạt được vinh quang thực sự và xứng đáng được tôn vinh.

Song, lỡ trong lần cuối cùng họ thất bại, họ có thể ngã xuống như bao người khác, nhưng không ai đánh đồng họ với những kẻ hèn nhát - những con người mãi mãi không bao giờ nếm trải hạnh phúc thật sự của cả thất bại và chiến thắng, và sẽ không bao giờ trở thành một dũng sĩ chân chính.

"Trong những lúc khó khăn nhất của cuộc sống, đừng cố gắng trở thành một người thành công hay hạnh phúc, tốt hơn hãy trở thành một người có giá trị. (Albert Eistein) "

Thứ Hai, 26 tháng 7, 2010

3. Traditional Banquets

Before the 1945 Revolution, formal meals in the traditional way were the plague of the old Vietnamese society, particularly in rural areas. Ruled by Confucian etiquette, formal meals held on the occasion of weddings, death anniversaries, even funerals, ritual village banquets, the celebration of promotions brought pain to many a family. Hundreds of guests were invited, each of whom was expected to do the same when his turn came. Communal pressure was such that nobody dared evade those "oral debts". To pay for them, people got into debt. Those in dire straits had to leave their villages.

The Revolution and thirty years of war broke that centuries-old custom, particularly in the liberated areas. The New Life movement launched by Ho Chi Minh urged sobriety, even austerity. Customs related to "eating and drinking in the village" together with expensive family and social celebrations practically vanished.

However, for a dozen years now, they have re-surfaced in the wake of new socio-economic factors. The resurgence of spirituality since the end of the war together with the need to reaffirm national cultural identity in face of modernism and Western cultures have resulted in a return to religion, village and family traditions with the rites and customs in their train. In face, these have been easily restored thanks to the relative improvement of living standards due to the policy of renovation started in 1986. The neuveaux riches, profiteers, as well as those who stubbornly long for the past, have taken the lead.

And so traditional banquets have re-appeared, tolerated and more and more accepted by public opinion, to the detriment of wage-earners and impecunious families. Weddings have no longer been celebrated the New-Life way: a meeting of relatives and friends of the bride and the bridegroom, with only tea, sweets and songs. Formal meals, at home or at some restaurants, are now a must, with aroud one hundred guests, and families of the newlyweds have to spend at least three million Vietnamese dong on one such occasion in the towns. But it must be said that generally speaking, they are not always the losers in this game: gifts brought by the guests, mostly in the form of money in envelopes, fill the deficit, if any. It is the guests who eventually bear the cost. In the season of marriages (autumn) many among my friends lament: "To cope with invitations to three weddings, two-thirds of my pay will be gone this month"-each wedding gift averageing 100,000 Vietnamese dong.

A peasant household may have to labour several decades to pay off its marriage debts. Formal meals held on the occasion of the death anniversariesand funerals, particularly in the countryside, are more and more costly and wasteful.

At traditional banquets held on the occasion of village festival at the communal house trays of victuals are laid out for four persons sitting on mats spread on the floor according to the order of precedence. The rules are that the food should include four plates of boiled meat and four bowl of food cooked in liquids. The unsophicated menu of a co giam gem comprised mostly boiled pork seasoned with vinegar and served with raw vegetables

The numbers of plate should always be an even one. In the towns, a traditional banquet comprises also four solid dishes: spring rolls, fried pork paste, boiled pork paste and sweet-sour salad served on plates, and four liquid dishes served in big bowls: bamboo shoot cooked with far pork, vermicelli, strips of drieds squid, fish bladder. The list may vary a great deal and include rare and expensive items: sea-swallow's nest, abalone, fragrant mushroms, stuffed pigeon, shark fin, etc. Boiled chicken eaten with a little salt mixed with lomen juice and lemon leave cut into fine strips cannot be absent from a dinner offered on the occasion of the death anniversary of a family member. A must item in the wedding banquet is a plate of steamed glutinous rice colored in red, the color of luck and happiness, with momordica juice.

A tray of food served at a traditional banquet is a pleasure for the eyes as well as the palate. This should not be held responsible for the abusive banqueting often perpetrated of "respect for the past" and "repayment of oral debts."

Chủ Nhật, 25 tháng 7, 2010

Cà Rốt, Trứng hay hạt Cà Phê?


Cô con gái hay than thở với cha sao bất hạnh này cứ vừa đi qua thì bất hạnh khác đã vội ập đến với mình, và cô không biết phải sống thế nào. Có những lúc quá mệt mỏi vì vật lộn với cuộc sống, cô đã muốn chối bỏ cuộc đời đầy trắc trở này.


Cha cô vốn là một đầu bếp. Một lần, nghe con gái than thở, ông dẫn cô xuống bếp. Ông bắc ba nồi nước lên lò và để lửa thật to. Khi ba nồi nước sôi, ông lần lượt cho cà rốt, trứng và hạt cà phê vào từng nồi riêng ra và đun lại để chúng tiếp tục sôi, không nói một lời.


Người con gái sốt ruột không biết cha cô đang định làm gì. Lòng cô đầy phiền muộn mà ông lại thản nhiên nấu. Nửa giờ sau người cha tắt bếp, lần lượt múc cà rốt, trứng và cà phê vào từng tô khác nhau.


Ông bảo con gái dùng thử cà rốt. "Mềm lắm cha ạ", cô gái đáp. Sau đó, ông lại bảo cô bóc trứng và nhấp thử cà phê. Cô gái cau mày vì cà phê đậm và đắng.


-Điều này nghĩa là gì vậy cha - cô gái hỏi.

- Ba loại thức uống này đều gặp phải một nghịch cảnh như nhau, đó là nước sôi 100 độ. Tuy nhiên mỗi thứ lại phản ứng thật khác.


Cà rốt khi chưa chế biến thì cứng và trông rắn chắc, nhưng sau khi luộc sôi, chúng trở nên rất mềm.

Còn trứng lúc chưa luộc rất dễ vỡ, chỉ có một lớp vỏ mỏng bên ngoài bảo vệ chất lỏng bên trong. Sau khi qua nước sôi, chất lỏng bên trong trở nên đặc và chắc hơn.

Hạt cà phê thì thật kỳ lạ. Sau khi sôi, nước của chúng trở nên rất đậm đà.


Người cha quay sang hỏi cô gái: Còn con? Con sẽ phản ứng như loại nào khi gặp phải nghịch cảnh.

Con sẽ như cà rốt, bề ngoài tưởng rất cứng cáp nhưng chỉ với một chút đau đớn, bất hạnh đã trở nên yếu đuối chẳng còn chút nghị lực?


Con sẽ là quả trứng, khởi đầu với trái tim mỏng manh và tinh thần dễ đổi thay. Nhưng sau một lần tan vỡ, ly hôn hay mất việc sẽ chín chắn và cứng cáp hơn.


Hay con sẽ giống hạt cà phê? Loại hạt này không thể có hương vị thơm ngon nhất nếu không sôi ở 100 độ. Khi nước nóng nhất thì cà phê mới ngon.


Cuộc đời này cũng vậy con ạ. Khi sự việc tưởng như tồi tệ nhất thì chính lúc ấy lại giúp con mạnh mẽ hơn cả. Con sẽ đối mặt với những thử thách của cuộc đời như thế nào? Cà rốt, trứng hay hạt cà phê?

Thứ Sáu, 23 tháng 7, 2010

Ý Nghĩa Của Các Loài Hoa






Hoa Sen Thể hiện sự cung kính, tôn nghiêm. Hoa dành tặng cho Mẹ, chị gái hoặc người phụ nữ bạn tôn kính




Hoa Thủy Vu Mang ý nghĩa gia đình: "Sự trở về của hạnh phúc"




Hoa lài Mang nghĩa "Tình bạn ngát hương", dành tặng cho người bạn gái thân




Hoa Cẩm Chướng "Tình bạn", hoa dành tặng cho bạn bè




Hoa Phong Lan "Với bạn tôi luôn luôn thành thật"




Hoa Tuy Lip "Lời tỏ bầy của tình yêu", hoa dành tặng cho người bạn gái khi bạn có ý ngỏ lời




Hoa Lilies (hay còn gọi là hoa huệ tây)
"Tình cảm tôi dành cho bạn luôn trong sáng và thật lòng"




Hoa Lưu Ly (hay còn gọi Hoa Forget Me Not)
"Xin đừng quên tôi"




Hoa Bát Tiên "Bạn là người vương giả, thanh cao, và kiêu hãnh "




Hoa thiết mộc lan "Bạn thật quý phái và lộng lẫy "




Hoa Trinh Nữ "E ấp, kín đáo"




Hoa Trà Câu nhắc khéo: "Em nên dè dặt một chút."




Hoa Lay Ơn "Cuộc họp vui vẻ và lời hẹn cho ngày mai."




Hoa Hải Đường Câu hỏi: "Sao bạn lại thờ ơ, lạnh lùng ..?."




Hoa Đồng Tiền Lời chúc mừng "Niềm tin của em đã đạt được."




Hoa Mimosa "Tình yêu mới chớm nở." Hoa dành tặng cho bạn trẻ mới yêu





Hoa Tường Vi Hồng Thông điêp: "Anh yêu em mãi mãi"




Hoa Kim Ngân Thông điệp: "Tôi sẽ là người bạn trung thành"




Hoa Phù Dung Lời an ủi: "Hồng nhan bạc phận"




Hoa Oải Hương "Sự ngờ vực" Nhắc khéo khi bạn thấy nghi ngờ một điều gì đó




Hoa Hồng Tỉ Muội "Em là một đứa em ngoan", hoa dành tặng em gái của anh trai hoặc một lời từ chối tình yêu khéo léo




Hoa Hồng Đỏ "Tình yêu say đắm và nồng nhiệt"




Hoa Hồng Kem "Em là người con gái duyên dáng và dịu dàng."




Hoa Hồng Phấn Lời cảm ơn: "Anh cảm ơn em đã cùng anh trên con đường phía trước"




Hoa Hồng Vàng "Một tình yêu kiêu sa và rực rỡ."




Hoa Hướng Dương "Bạn là niềm tin và hy vọng của tôi"




Hoa Dạ Lan Hương Tình bạn "Thật vui, khi tôi được làm bạn của bạn"

Thứ Năm, 22 tháng 7, 2010

Câu Chuyện Ba Số 3

Tôi vẫn thường điều khiển các buổi hội thảo vào cuối tuần tại Deerhurst Lodge, bắc Toronto. Vào một đêm, cơn bão đã quét ngang một thị trấn nhỏ ở phía bắc chúng tôi, Barrie, giết hại nhiều người và thiệt hại lên đến hàng triệu đô la. Vào đêm Chủ nhật, trên đường về nhà, tôi dừng xe khi chạy ngang qua Barrie. Tôi dừng lại bên đường cao tốc và nhìn quanh. Ngổn ngang. Khắp mọi nơi đều là những căn nhà đổ nát và những chiếc xe bị lật ngược. 

Cũng vào đêm đo, ù Bob Templeton cũng chạy trên con đường cao tốc đó. Cũng như tôi, anh ấy cũng dừng lại để xem sự thiệt hại do thiên tai tạo ra, nhưng suy nghĩ của anh ấy hơn tôi nhiều. Bob là phó chủ tịch của Telemedia Communications, công ty sở hữu một loạt các đài phát thanh ở Ontario và Quebec. Anh ấy nghĩ rằng có thể giúp được những con người khốn khổ này với các đài phát thanh mà công ty anh có.

Đêm kế tiếp, tôi lại điều khiển một hội thảo khác ở Toronto. Bob Templeton và Bob Johnson, một phó chủ tịch khác của Telemedia, cùng đến và họp với nhau. Họ chia xẻ với nhau suy nghĩ rằng chắc chắn có điều gì đó mà họ có thể làm cho người dân Barrie. Sau hội thảo chúng tôi cùng đến văn phòng của Bob. Anh ấy được tất cả mọi người ủy nhiệm trong việc tìm ra phương pháp giúp đỡ mọi người bị thiệt hại sau cơn bão. 

Vào tối thứ Sáu, anh ta gọi toàn bộ cấp lãnh đạo của Telemedia vào phòng của anh. Ở phía trên cùng tấm bảng anh viết ba số 3. Anh nói với các vị lãnh đạo "Bằng cách nào các anh có thể kêu gọi được 3 triệu đô trong 3 giờ và chuẩn bị việc này chỉ trong vòng 3 ngày là chuyển số tiền đó cho người dân Barrie vừa gặp thiên tai?" Cả phòng im phăng phắc. Cuối cùng một người lên tiếng "Templeton, anh điên rồi. Không có cách nào để làm được điều đó." 

Bob nói "Chờ chút xíu, tôi không hỏi các anh là chúng ta có thể hay chúng ta nên. Tôi chỉ hỏi là các anh có muốn không." Tất cả đều nói "Chắc chắn là chúng tôi muốn mà." Anh ấy liền gạch dọc chia đôi tấm bảng ra làm 2 phần. Một bên anh viết "Tại sao chúng ta không thể". Bên kia anh viết "Bằng cách nào chúng ta có thể."

"Tôi sẽ xóa phần 'Tại sao chúng ta không thể.' Chúng ta không phí thời gian cho việc suy nghĩ tại sao chúng ta không thể. Nó vô giá trị. Phía bên kia chúng ta sẽ ghi ra toàn bộ những ý kiến chúng ta nghĩ ra bằng cách nào chúng ta có thể làm được. "Chúng ta sẽ không ra khỏi phòng cho đến khi chúng ta chưa tìm ra cách." Cả phòng lại chìm vào im lặng. 

Cuối cùng một người nói "Chúng ta có thể làm một buổi phát thanh trên khắp Canada."
Bob nói "Đó là ý kiến rất tuyệt," và ghi nó lên bảng.
Trước khi anh viết xong đã có người nói "Anh không thể làm buổi phát thanh trên toàn Canada được. Chúng ta không có các đài radio trên toàn Canada." Đó thật sự là một lời phản đối hợp lý. Họ chỉ có đài tại Ontario và Quebec. 

Templeton nói "Đó là cái ta có thể làm. Ý kiến đó vẫn ở lại." Nhưng thật sự lời phản đối đó rất mạnh vì các đài radio cạnh tranh nhau dữ dội. Họ không chịu hợp tác với nhau và gần như là không thể làm được điều đó nếu chỉ theo cách suy nghĩ thông thường. 

Bất ngờ một người đề nghị "Anh có thể mời Harvey Kirk và Lloyd Robertson, những tên tuổi lớn nhất trong ngành truyền thông ở Canada hướng dẫn chương trình." Từ thời điểm đó, ù biết bao nhiêu ý kiến sáng tạo đã được nghĩ ra nhanh chóng và mạnh mẽ đến kỳ diệu. 

Đó là vào thứ Sáu. Vào thứ Ba họ có một chương trình phát thanh khổng lồ. Có 50 đài phát radio trên toàn quốc đồng ý phát tiếp sóng chương trình. Chẳng ai chú ý đến việc ai có lợi trong chuyện này ngoài chuyện làm sao người dân ở Barrie có được tiền. Harvey Kirk và Lloyd Robertson hướng dẫn chương trình và họ thành công trong việc kêu gọi được 3 triệu đô la cho những người dân gặp thiên tai trong 3 giờ và trong vòng 3 ngày. 

Bạn thấy đó, bạn có thể làm được mọi điều nếu bạn tập trung vào việc bằng cách nào đạt được điều đó hơn là vào những điều tại sao bạn không làm được nó.

Thứ Tư, 21 tháng 7, 2010

Câu chuyện cuộc sống

Câu chuyện này là câu chuyện của các bạn, câu chuyện về cuộc đời của mỗi người chúng ta. Nếu chúng ta, ngay giờ phút này, ngồi nghĩ lại quãng đời đã qua, hồi tưởng lại các ký ức vui, buồn, các tình cảm mà chúng ta đã từng trải qua,... mọi thứ, chúng ta cảm thấy rằng chúng ta thật sung sướng khi đã trải qua những giờ phút đó. Và từ bây giờ, chúng ta cảm nhận rằng cuộc sống của chúng ta là một quyển sách, đó là quyển sách cuộc đời. Quyển sách này chưa kết thúc, chúng ta là những người viết nên trang sách cho chính chúng ta. Và vì thế, hãy hít một hơi thật sâu vào và bắt tay vào việc.

Gia đình: Đã có bao giờ bạn nói với cha mẹ, anh chị em của bạn rằng bạn yêu thương họ chưa? Tôi dám nói là chưa. Chúng ta đôi khi không để ý đến những gì chúng ta có và không trân trọng nó. Chúng ta không tỏ bày sự yêu thương của chúng ta với những người trong gia đình, để rồi một ngày kia, ta phải hối tiếc vì điều đó. Tôi đã mất đi ông bà nội, và cả bà cô nữa. Tôi cảm nhận rất rõ sự hối tiếc trong lòng vì đã không nói lên được lời yêu thương đối với họ. Và bây giờ, họ đã ra đi, tôi không còn cơ hội để làm được điều đó nữa.

Bạn bè: Đã có bao giờ, bạn định nghĩa bạn bè của mình phải là người thế nào chưa? Tôi cũng dám chắc là chưa, và tôi chúc mừng cho bạn vì điều đó. Chúng ta phải có bạn bè, và chúng ta trân trọng tình bạn mà chúng ta đang có với nhau. Tôi rất hân hạnh được làm quen với rất nhiều người bạn, những người đã không hề để ý đến các tính xấu của tôi mà làm bạn và chia sẻ mọi sự với tôi. Và tôi biết rằng khi họ cần, tôi sẽ ở bên cạnh họ.

Tình yêu: Bạn có bao giờ nghĩ người yêu của mình phải là người như thế nào chưa? Tôi dám chắc là rồi. Nhưng có bao giờ bạn nghĩ rằng, người yêu lý tưởng của mình là không hề tồn tại không? Rằng điều bạn cần là một người chia sẻ với mình như một người bạn và hơn thế nữa không. Rằng tình yêu giống như một cuộc chơi kéo co giữa hai người không? Khi bạn và bạn của mình có tranh chấp, nếu cả hai người cùng kéo, sợi dây sẽ đứt, nhưng nếu một người kéo, còn người kia thả, sợi dây sẽ không đứt mà bền vững mãi không. Nhưng bạn hãy nhớ, nếu bạn là người kéo, đừng kéo quá nhiều, vì sợi dây không dài lắm để đối phương thả đâu. Đừng bỏ phí bất kỳ cơ hội nào. Hãy trân trọng những gì mình có.

Hôn nhân: Bạn có bao giờ nghĩ về cuộc sống gia đình chưa? Tôi không dám nói đến điều này nhiều. Vì bản thân mình cũng chưa có kinh nghiệm, nhưng sự tưởng tượng của con người là vô hạn. Bạn có nghĩ rằng hôn nhân sẽ gắn kết hai người lại với nhau không? Rằng bạn phải chấp nhận tất cả mọi thứ của đối phương và chung sống với nhau. Tôi không nghĩ sâu xa đến thế. Tôi chỉ hy vọng rằng mình làm được điều này. Nếu có một lúc nào đó, tôi, hay đối tượng của tôi tức giận, điều duy nhất tôi làm là ôm người đó vào lòng và nói "Anh yêu em" bởi vì tình yêu thì xóa đi các bất đồng và gắn kết chúng ta lại với nhau.

Con cái: Con cái là hình ảnh của chúng ta. Vì thế, hãy cố gắng tạo ra một hình tượng tốt, mà qua đó, chúng ta có thể thấy được kết quả của điều chúng ta làm qua con cái chúng ta. Và chúng ta hạnh phúc về điều đó.

Sự nghiệp: Bạn có bao giờ nghĩ mình sẽ làm gì chưa? Chắc là có rồi bạn nhỉ. Nhưng cho dù gì đi nữa, hãy nhớ lấy nguyên tắc của sự thành công: "Nỗ lực trước, gặt hái sau". Hãy cố chiêm nghiệm điều này. Nó rất quan trọng đối với bạn. Và hãy nhớ, không hề có cố gắng nào là vô ích cả.


Truyện do bạn php81(E-mail: phphuoc81@yahoo.com) gởi đến Làng Xitrum

Thứ Hai, 12 tháng 7, 2010

2. The Traditional Meals in Vietnam

One is reminded of the famous quip by the French gourment, magistrate Brillat Savarin: " The destiny of nations depends on the way they feed themselves "
( Physiology of Taste, 1825 ). The French, reputed to be gourments, turn a " real " meal into a five-act drama:

1- Hors d'oeuvres
2- Entrée
3- Meat and vegetables
4- Dessert
5- Cheese

This, I believe, is the stereotyped model of the West.
The traditional Vietnamese meal  follows other rites, dictated by a hot and humid climate and the civilization of rice marked by the vegetable.

First, the material organization. The Western meal is served on a table. The traditional Vietnamese one is served on a mat, which can be spread on a plank bed or on the floor itself. The dishes are laid on a tray of wood or bronze. In the West, in France in particular, the invitation to eat is: "A table s'il vous plait " ( Take your seat at the table, please ). In Vietnam, one way to say this is: " Take your seat at the tray, please. " About the order of predecence, in the West, the place of the person presiding over the meal may be at the center of the table ( the French way ) or at one end ( the British way ).

In Vietnam, at formal meals eaten at the communal house, on " superior mats " the highest places are reserved for notables, persons with degrees, or elderly ones, while " inferior mats " are for people of no peculiar distinction. Each tray is laid for four people (except in the case of family members ), who sit at the four corners of the mat without any order of predence. At a family meal, the rice pot is always put beside the mother ( of the first daughter-in-law ) whose role is to fill the bowls of the others when they are empty.

Before the familly meal is begun, an invitation must be extended by everyone, except the head of the family: "I vivite you, grandpa, grandma, father, mother, elder brothers, elder sisters... to eat the meal. " To say " eat ", the most formal words is used. Naturally, the youngest member of the family is the one who has to invite the most people. Since the 1945 revolution, and mostly following upheavals caused by thirty years of war, this ritual of invitation has unfortunately been lost in many famillies.

A proverb contains a piece of advice: " eating at a meal, one watches the pot; sitting down, one takes a careful look around. " This means that before asking for more bowls of rice, one must make sure that enough rice remains in the pot; before taking one's seat, one must make sure one is causing no inconvenience to others.

It seems that the tradition of a Western meal, eaten with a fork and knife and served in courses, dates back only to the 16th century. In a Vietnamese meal, all the dishes are laid out on the tray at the start of the meal. Except in the case of formal meals in which the dishes are eaten according to a conventional order, people sharing an ordinary meal can pick food with their chopsticks from any of these plates of bowls. Some reforms in the traditional use of chopsticks were thought necessarily as it was considered contrary to the rules of hygiene: each person is given a small individual dish or bowl to contain his share of brine or sauce; a pair of chopsticks is reserved for serving the food; each person will turn his chopsticks the other way round and use only the " clean " end to pick food from the plates ( that was the method used by soldiers during the first war of resistence, 1945 - 1954 ). However, these reforms were generally not very popular.

In the course of a family meal, if a visitor turns up unexpectedly, he is invited to join in without any need for ceremony. A proverb says that in such a case, one simply brings an extra bowl and an extra pair of chopsticks. With friends, one shares whatever food one has.

In the old day, the same time-table was not applied by people of all walks of life for their meals. In the towns, traders took their lunch at about 9 a.m, and their dinner at about 5 p.m. Civil servants ate a full meal at arout 6 in the morning, lunch at noon, and took practically nothing in the evening. In the countryside peddlers ate their meals very early in the morning and very late in the evening, by lamblight. Hence this folk song:

" Each day I eat my meals twice by lamplight
How can I manage the time to powder my cheeks and lacquer my teeth "

At the time of ploughing and harvesting, hired labourers took their meals before sunrise; lunch was brought to them in the fields; they had nothing in the evening, in most cases.

Meals were frugal. Meat was seldom eaten especially in the countryside. Rice growing claimed most land available and animal husbandry was little practiced. Proteins came from fish, shrimp, mussel, soya bean. Rice, often supplemented by sweet potato, maize, casava, was the staple food. A man convalescing after a long illness was deemed to recover his health as soon as he started to eat rice to make up for missed meals. A fold saying recommended that one should be content with three bowfuls of rice at mealtimes, a change of three shirts to cover one's back. The most common foods were boiled convolvulus with garlic, salted aubergines, boiled vegetables, fried bean curd, fish cooked in brine, etc...

Fish brine frequently accompanies the food served. The dishes are simple and wholesome, and suit the tropical climate. They vary with the seasons. In people's mind, the meal is a symbol of family union. One feels contentment at having just some well-cooked rice and soup. These things are not always available in a restaurant. Meals eaten in the company of one's family are treasured.

Source: " Pages 326-329 " of Wandering through Vietnamese Culture, 7th edition by Hữu Ngọc. Copyright 2007 by Thế Giới Publishers.



Comments gần đây!