Welcome to Vietnamese Culture. I hope you have a happy day! Chào mừng các bạn đến với Văn Hóa Việt Nam. Chúc các bạn có một ngày hạnh phúc. Nếu bạn ghé thăm lần đầu, hãy đọc mục giới thiệu blog phía dưới để khai thác blog này hiệu quả hơn. Các bạn có thể yêu cầu bài viết về mọi chủ đề, tôi sẽ tìm tài liệu và viết bài hoàn chỉnh cho các bạn. Hiện nay, hoàn toàn miễn phí! DOWNLOAD ĐH CẦN THƠ SÁCH NÓI PHIM HAY VIETNAMNET DịchThuậtSH Bệnh Thú Kiểng MuaSách Vietruyengan

Thứ Ba, 14 tháng 9, 2010

BỔ ĐỀ CƠ BẢN LANGLANDS LÀ GÌ VÀ Ý NGHĨA

      Câu chuyện bắt đầu như thế này. Cách đây rất lâu các nhà toán học đã công bố hai lý thuyết quan trọng: lý thuyết số học và lý thuyết nhóm (number theory, group theory). Bản chất của hai lý thuyết đó tôi sẽ để cho bác “Wiki” giải thích – điều nên nhớ là (a) hai lý thuyết ấy rất quan trọng trong thế giới toán học và (b) hai lý thuyết ấy từ xa nhìn riêng biệt với nhau, như hai cành của một thân cây.

     Cách đây khoảng 30 năm, một nhà toán học Canada tên Robert Langlands đã công bố rằng ông ấy nghĩ hai lý thuyết ấy có sự liên quan rất đa dạng. Quan điểm của Robert (và cách thể hiện quan điểm đó) đã làm cho nhiều nhà toán học thực sự choáng! Robert cũng tự làm choáng mình nữa – ông phát biểu rằng sẽ mất mấy thế hệ để chứng minh sự liên quan đa dạng mà ông ấy cho rằng có tồn tại. 

     “Nhưng bước đầu tiên sẽ tương đối dễ thực hiện”, ông Robert tự tin nói với đồng nghiệp. “Bước đầu tiên” đó Robert đặt tên là "fundamental lemma”, và đó chính là “Bổ đề cơ bản” mà các bạn nghe kể nhiều thời gian gần đây. 
Ông Robert tựa như đang đứng trên đảo nhỏ. Nhìn về phía Đông là một con tàu lớn. Nhìn về phía Tây cũng là một con tàu lớn. (Hai tàu không có người lái, trôi trên mặt biển.) Robert không nhìn kỹ được nhưng vẫn cho rằng hai con tàu đó có nhiều điểm chung. Có khi sản xuất cùng loại thép. Có khi chân vịt cùng cỡ. Có khi bánh lái của “tàu Đông” hướng về phía tay phải thì bánh lái của “tàu Tây” sẽ tự động hướng về phía tay trái.  
     
        Khỏi phải nói hai con tàu đó là lý thuyết số học và lý thuyết nhóm. 

       Với Robert, việc chứng minh “bổ đề cơ bản” có thể so sánh với việc ném hai sợi dây có móc sang hai tàu. Khi việc đó làm xong, các nhà toán học khỏe mạnh có thể đứng trên đảo cùng Robert, dùng dây kéo hai tàu gần nhau. (Khi đó mới nhìn kỹ được, tìm ra sự liên quan.) Việc kéo hai con tàu gần nhau và so sánh là việc Robert nghĩ sẽ mất mấy thế hệ. Nhưng việc ném hai sợi dây có móc đó ông Robert nghĩ sẽ nhanh thôi. 
       Nhưng ông Robert đã nhầm. Việc ném dây khó lắm. Robert cùng một số em sinh viên đã ném thử mấy lần nhưng lần nào cũng thất bại. Họ chỉ biết ném gần (không chính xác được) và dùng dây loại mỏng. Đảo của Robert trở thành đảo nổi tiếng. Suốt 30 năm có rất nhiều nhà toán học sang “ném thử” Ai cũng lau mồ hôi và kêu lên “khó quá!” Nhiều nhà toán học trên đất liền chuẩn bị công cụ dùng để kiểm tra và so sánh hai con tàu lúc được kéo về đảo (kéo gần nhau!). Họ sản xuất máy để kiểm tra loại sơn, lập trình phần mềm để phân tích hai chân vịt. Thậm chí có người tập lái tàu và tập cách đứng trên boong tàu để không bị say sóng. Những công việc và sự tập luyện đó sẽ thành vô nghĩa nếu không có người ném dây chính xác.  
       Và rồi xuất hiện anh Ngô Bảo Châu. Nghe kể về đảo của Robert, anh bơi sang xin ném thử. “Được chứ!”, các nhà toán học giỏi nhất thế giới động viên. “Anh cứ thử thoải mái đi, thử mấy lần cũng được, thử xong ngồi cùng chúng tôi uống trà đá nhé!” 
      Anh Châu ném thử một lần, ném rất mạnh, dùng loại dây nặng nhất. Các nhà toán học kia đứng lên ngạc nhiên, nhiều cốc trà đá rơi xuống đất. Cách ném của anh Châu rất lạ; anh dùng kỹ thuật đặc biệt mà chưa ai thấy bao giờ. “Ném thật đi anh ơi!”, các nhà toán học động viên tiếp. “Biết đâu anh sẽ là nhà toán học đầu tiên bắt tàu hai tay!” 
Ngô Bảo Châu ném thật. Và chính xác. Hai cái móc dính vào hai con tàu ngay, mọi người vỗ tay ầm ĩ.  Rồi anh Châu bảo các nhà toán học đứng trên đảo Robert cầm dây giúp (và bắt đầu kéo hai tàu gần nhau), để anh ấy có thể đi sang Ấn Độ nhận giải thưởng Fields.  

DIỄN GIẢI NÔM NA VỀ BỔ ĐỀ CƠ BẢN CỦA GS LÊ BẢO CHÂU:
       Việc chng minh thành công Bổ đề Langlangds của Ngô Bảo Châu được đánh giá là một cuộc cách mạng trong toán học ở các khía cạnh sau đây:

1.Kết nối được mối quan hệ giữa các chuyên ngành tưởng như độc lập của toán học là số học, đại số, hình học và giải tích.Đó là 4 chuyên ngành từ khi ra đời đến nay gần như độc lâp và tách bạch nhau.

2.Bản thân số học, hình học, đại số và giải tích khi chưa được kết nối đã là công cụ tính toán mang lại rất nhiều hữu ích cho loài người. Sau khi được kết nối, tính hữu ích được nhân lên gấp bội, đặc biệt đối với các dạng bài toán kỹ thuật, ví dụ:
      Muốn tính được quĩ đạo của các con tàu vũ trụ bay vào không gian người ta phải dùng đến thuật toán mô phỏng trong đó giải tích là công cụ chủ yếu. 

     Trong giải tích, chuỗi Fourie và Laplace  được sử dụng với các phép tính lập lên đến hàng ngàn, hàng vạn lần. Việc sử dụng số lần mô phỏng càng nhiều càng tốt kéo theo sự đòi hỏi phải có máy tính với tốc độ xử lý siêu tốc.
     Quĩ đạo kỳ vọng của con tàu vũ trụ nếu chỉ dựa vào mức độ hội tụ của chuỗi Fourie hay Laplace không thôi sẽ là đơn trị. Trong trường hợp chuỗi Fourie hay Laplace không hội tụ thì xem như bó tay.
Hình học, số học và đại số cùng lúc hỗ trợ cho phép tính mô phỏng bằng giải tích có thể kiểm chứng được  trong mọi tình huống mô phỏng.

3.Với kết quả phát minh nói trên, người ta ví số học, hình học, đại số và giải tích như là những bánh xe tách rời nhau. Việc chứng minh thành công bổ đề Langlands của Ngô Bảo Châu giống như việc anh đã tìm ra được cách kết nối 04 bánh xe độc lập để lắp vào cho cỗ xe Toán học, giúp nó hợp lực để đưa xe lao về phía trước. 
     Với sự phát minh này sẽ giúp cho các ngành của Toán học xưa nay riêng lẻ với nhau, nhà thiết kế Ngô Bảo Châu tổ hợp lại, tìm được nguyên lý và nguyên tắc để kết cấu chúng lại, biến chúng thành các bánh xe cùng chung nhiệm vụ chuyên chở cỗ xe Toán học. Các bánh xe này được một bàn tay điều khiển để cỗ xe toán học lao về một hướng giống như 5 anh em trên một chiếc xe tăng (Toán ). Sự hợp lực này se giúp tăng tốc các ứng dụng của toán học vào đời sống…
(Để tìm hiểu thêm, mời bạn ghé thăm blog của bác Phạm Viết Đào: http://phamvietdaonv.blogspot.com)



Thứ Năm, 2 tháng 9, 2010

Tiểu sử Ngô Bảo Châu





Ngô Bảo Châu sinh ngày 15 tháng 11 năm 1972 tại Hà Nội. Thời niên thiếu, ông là học sinh Trường Thực nghiệm Giảng Võ, Trường THCS Trưng Vương, và sau đó học tại khối chuyên toán Trường Trung học phổ thông chuyên Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ông đã hai lần đoạt huy chương vàng Olympic Toán học Quốc tế tại Australia năm 1988 và Cộng hoà Liên bang Đức năm 1989, và cũng là người Việt Nam đầu tiên giành 2 huy chương vàng Olympic Toán quốc tế. 

Gs. Ngô Bảo Châu
Là sinh viên Trường Đại học Paris VI (Université Pierre et Marie Curie) và Trường Sư phạm Paris (École normale supérieure Paris, ENS Paris) từ năm 1992 đến năm 1994, rồi sau đó là sinh viên cao học và nghiên cứu sinh của Trường Đại học Paris XI (Université Paris-Sud 11) dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Gérard Laumon, Ngô Bảo Châu bảo vệ Luận án tiến sĩ năm 1997, trở thành nghiên cứu viên của Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp (CNRS) từ năm 1998, lấy bằng Habilitation à Diriger les Recherches (HDR) năm 2003 và sau đó được bổ nhiệm là giáo sư toán học tại Trường Đại học Paris XI năm 2004. Cũng trong năm này, ông được trao tặng giải Nghiên cứu Clay của Viện Toán học Clay cùng với Giáo sư Gérard Laumon vì đã chứng minh được Bổ đề cơ bản cho các nhóm Unita. Năm 2005, khi được 33 tuổi, Ngô Bảo Châu được phong đặc cách hàm giáo sư tại Việt Nam và trở thành vị giáo sư trẻ nhất của Việt Nam tính đến thời điểm đó.

Năm 2007, ông đồng thời làm việc tại Trường Đại học Paris XI, Orsay, Pháp và Viện nghiên cứu cao cấp Princeton, New Jersey, Hoa Kỳ. Trong năm 2008, ông công bố chứng minh Bổ đề cơ bản cho các đại số Lie hay còn gọi là Bổ đề cơ bản Langlands. Cuối năm 2009, công trình này đã được tạp chí Time bình chọn là 1 trong 10 phát minh khoa học tiêu biểu của năm 2009.

Với các công trình khoa học của mình, Giáo sư Ngô Bảo Châu được mời đọc báo cáo trong phiên họp toàn thể của Hội nghị toán học thế giới 2010 tổ chức ở Ấn Độ vào ngày 19 tháng 8 năm 2010. Tại lễ khai mạc của Hội nghị này, giáo sư đã được tặng thưởng Huân chương Fields. Năm 2010 cũng là năm ông nhập quốc tịch Pháp nhưng vẫn tiếp tục giữ quốc tịch Việt Nam. Kể từ ngày 1 tháng 9 năm 2010, ông là giáo sư tại Khoa Toán Trường Đại học Chicago.

 Gia đình

Giáo sư Ngô Bảo Châu là con trai Giáo sư, Tiến sĩ khoa học ngành cơ học chất lỏng Ngô Huy Cẩn, hiện đang làm việc tại Viện Cơ học Việt Nam. Thân mẫu của ông là Phó giáo sư, Tiến sĩ Trần Lưu Vân Hiền, công tác tại Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương, Việt Nam.
Giáo sư Ngô Bảo Châu lập gia đình với người bạn gái cùng học phổ thông, lúc 22 tuổi. Đến tháng 8 năm 2010, hai người có với nhau ba người con gái.

Thứ Hai, 2 tháng 8, 2010

Salted Stories

My heart sinks each time I cross the narrow cul-de-sac where a young woman from the suburbs lives. To earn a living, she pushes a bicycle around the streets of the town the whole day, crying out: "who wants to buy salt?" With one kilo costing less than 15 cents, she has to work very hard to make ends meet.

My thoughts go back to the resistance zone during the First War of Resistance against the French more than 40 years ago when we ran very low on salt was we were caught up in the jungles of Viet Bac in northen Vietnam. Salt was then a precious commodity. Many resistance workers, civilian and military, suffered grave health problems because they could not get the 20 grams or so that the body needs daily. It happened more than once that we had to do with the ash of burnt bamboo.

Ancient Vietnam comprising only the northern area of the present territory, had a mountainous region inhabited by a dozen ethnic minorities and the plains inhabited by the Viet, the majority group. Salt was therefore the most important article in barter trade between people of the plain and the highlanders.

As with many other cultures in the world, salt assumes a high symbolic character in Vietnamese culture.

Man's subconscious is haunted by salt. Is it because  the first germ of life which was to engender the human race came from the sea where water holds the same proportion of salt as human blood?

Salt is first of all the symbol of friendship, love, solidarity and hospitality and durable social ties. Is it because when sharing this indispensable stuff of life with another, one wishes to show that one's faithfulness is complete?  In ancient Greece, as well as among the Jews and Arabs, salt represented friendship, hospitality and respect for a promise made. Homer on many occasions affirmed the sacred character of salt which was frequently used in sacrificial rites.

According to Hindu philosophy, the individual self merges in the universal consciousness just as salt dissolves in water.

Another trait of salt is its indestructibility. For the Semites, to eat bread and salt together is to seal an indestructible friendship or a durable commitment. A French proverb says: "They will not eat a pinch of salt together, they will quarrel soon."

Salt and ginger constitute, according to a Vietnamese folk song, a vow of eternal love:

"I raise the plate of salt in my hand where I have  immersed ginger, 
the ginger is hot, the salt is salt, let neither of us will forget the other."

Salt is used to preserve fish, meat and food in general. Some beliefs make it a symbol of preservation and even purification. Japanese shintoism devotes a ritual ceremony to the harvest of salt. Small mounds of salt placed at the house entrance or on the brim of the well or on the ground of the house of someone who has fust died is believed to have a purifying and exorcising effect. Some Japanese spread salt on the threshold of their homes everyday; they do the same after the departure of an undesirable guest.

Many Vietnamese phrases allude to the figurative sense of the word "salty".

"A fish that refuses to be salte will be spoiled."

Excess of salt causes a burning sensation. The proverb "when the father eats too much salt, the child will be very thirsty", is  an allusion to Buddhist karma: Children have to pay for the crimes and bad acts of their parents.

Moral wounds are likened to the burn  caused by salt on live flesh in such expressions as: "Only he who has his entrails burnt by salt knows what it is", "he has his face salted, to be very ashamed, accept to do something very humilitating, to lose face, which is a very grave thing in Asian cultures".

The old expression to throw salt into the eyes means an eyesore, to be disgracefully unpleasant to the eyes.

The correct quantity of salt will give flavour to dishes and, in a figurative sense, give ardour to an action or a feeling, something piquant and spiritual,  to a narrative, a story. The French says: the salt of life, the salt of an epigram, a joke full of salt, that has plenty of salt, and so on.

For Vietnamese, a woman who speaks with charm is being salted sentiment; passionate love is salted ardour, and a customer who wants to buy  at any price is being salted purchase.

Grilled and salted sesame and salted vegetable are lean dishes in pagodas.

Chủ Nhật, 1 tháng 8, 2010

Khi Yêu Một Ai Đó

"Ta sẽ không biến họ trở thành những gì mình muốn, mà thường giúp họ trở thành những gì họ có thể... "
Vào mùa hè cuối cùng của tuổi ấu thơ, tôi đã yêu say đắm một cô gái tên là Audrey. Chỉ cần cô ấy nhìn vào mắt tôi, thì lập tức tôi cảm thấy mình như đang từ từ bay lên khỏi mặt đất...

Audrey là điều tuyệt vời nhất ở vùng hồ Peekskill chúng tôi. Tôi 17 tuổi, còn Audrey mới 16. "Cuộc sống xã hội" của lũ trẻ mới lớn vùng hồ Peekskill luôn xoay quanh mấy đứa con trai đến từ New York. Chúng đến đây để nghỉ hè. Và đứa nào đứa nấy đều như một ngôi sao bóng rổ, cực kỳ tự tin và quả quyết!

Tôi thì chưa bao giờ giỏi bóng rổ. Tôi đập bóng vụng về và sức chịu đựng của tôi chỉ bằng một con muỗi mắt. Cho nên tôi rất ghét tụi teen "thành phố" kia. Mỗi lần chúng về vùng hồ là chẳng ai còn biết đến những cậu nhóc tỉnh lẻ như tôi nữa. Cho nên tôi đã mua cả một chiếc áo chơi bóng rổ và đem quả bóng màu da cam sọc đen ra nện hằng ngày, nhưng cứ trận bóng nào có tôi tham gia, chỉ được vài phút là tụi "thành phố" kia "mời" tôi ra ngồi nghỉ cho chúng… rảnh chân!
Một lần bị "mời ra ngồi nghỉ" như vậy, Audrey - trước đó đang ngồi xem bóng rổ - chợt bảo tôi cùng đi ra chỗ khác. Chúng tôi ngồi dưới một gốc cây lớn và Audrey lần đầu tiên nói rằng cô ấy rất thích giọng hát của tôi. Cô ấy bảo đã từng nghe thấy tôi hát khi đi câu cá ở hồ, và thậm chí còn so sánh tôi với ca sĩ nổi tiếng Paul Robeson. Không những thế, Audrey còn bảo rằng tôi có lợi thế hơn Robeson vì giọng tôi… trẻ trung hơn (tất nhiên, tôi mới có 17 tuổi).
Và rồi Audrey bảo tôi hát cho cô ấy nghe. Gì chứ hát là sở trường và là "môn" yêu thích của tôi. Tôi ngồi hát cho Audrey nghe suốt cả tiếng đồng hồ.

Rồi một lần, Audrey mời tôi đến nhà cô ấy chơi. Audrey nói mẹ cô ấy rất thích nghe hát, nhất là những người có giọng cao như tôi. Thế là tôi chọn một bài tình ca cổ điển và gân cổ lên hát. Mẹ Audrey say sưa nghe tôi hát, đung đưa người và mỉm cười. Còn Audrey thì nháy mắt với tôi và khi tôi về, cô ấy bảo: "Anh thấy chưa, em đã bảo anh hát rất hay mà".
Từ hồi đó, tôi được tự do đi chơi cùng Audrey. Chúng tôi thường ngồi chơi ở ven hồ và tôi hát cho Audrey nghe rất nhiều bài hát trong khi nắm tay cô ấy. Mùa thu năm đó, tôi vào đại học và sống xa nhà. Chỉ thỉnh thoảng tôi mới gặp "tình yêu mùa hè" của mình. Và rồi theo thời gian trôi, chúng tôi đi những con đường khác nhau trong cuộc sống.
Thế nhưng có một điều làm tôi nhớ mãi. Một đêm, trong mùa hè ấy, vì nhớ nhung, tôi đã điên rồ đến mức leo lên cửa sổ phòng của Audrey, chỉ để được ngắm cô ấy khi đang ngủ. Đó là căn phòng của một cô gái năng nổ, yêu bóng rổ và những môn thể thao ngoài trời khác, không có gì liên quan đến âm nhạc, ca hát...

Và tôi hiểu ra rằng Audrey nói rằng cô ấy thích nghe tôi hát chỉ để tôi có thể tìm lại được niềm yêu quý với chính bản thân mình. Cô bé có trái tim bao dung ấy đã trao tặng tôi một điều đặc biệt về tình yêu.

Đó là khi yêu một ai đó, ta không biến họ trở thành những gì mình muốn, mà thường giúp họ trở thành những gì họ có thể. Đó là lý do tôi luôn vẫn coi Audrey là một điều đặc biệt từng tới trong cuộc đời tôi.
Hoathuytinh.com

Thứ Bảy, 31 tháng 7, 2010

Đấu Trường Và Cuộc Sống

Trên một bức tường cũ kỹ của một đấu trường cổ ở La Mã, người ta đã đọc được những dòng chữ sau : "Sai lầm luôn nên tránh nhưng nếu đã phạm phải sai lầm thì đó là điều cần thiết và không nuối tiếc."

Sự thành công hay chiến thắng không có nghĩa là không lần nào vấp ngã. Đó là minh chứng rằng người đó đã nếm trải thất bại rất nhiều lần. Nếu ai đó cho rằng mình chưa từng vấp ngã hoặc thất bại, thì điều đó sẽ là một tiên đoán chắc chắn cho một vấp ngã và thất bại lớn trong tương lai.

Vinh quang thuộc về những người chiến đấu trên đấu trường với khuôn mặt thấm đẫm nhuệ khí, bụi bặm, mồ hôi, máu và nước mắt.

Lòng tự hào thuộc về những con người chiến đấu dũng cảm không khoan nhượng, không lùi bước trước hiểm nguy, biết vượt qua nỗi sợ hãi và đớn đau của khó khăn. Họ hiểu rõ không có chiến thắng nào mà không có những đau thương khốc liệt. Sự vĩ đại chân chính luôn thuộc về những người can đảm bản lĩnh, sẵn sàng sống hết mình cho mục đích và có lúc biết quên mình cho sự mạo hiểm đúng lúc.

Những con người biết vượt qua khó khăn nghịch cảnh, thử thách, biết thay đổi tình thế, dám đương đầu với thách thức sẽ có được một tầm nhìn, phong cách, uy lực mới, đạt được vinh quang thực sự và xứng đáng được tôn vinh.

Song, lỡ trong lần cuối cùng họ thất bại, họ có thể ngã xuống như bao người khác, nhưng không ai đánh đồng họ với những kẻ hèn nhát - những con người mãi mãi không bao giờ nếm trải hạnh phúc thật sự của cả thất bại và chiến thắng, và sẽ không bao giờ trở thành một dũng sĩ chân chính.

"Trong những lúc khó khăn nhất của cuộc sống, đừng cố gắng trở thành một người thành công hay hạnh phúc, tốt hơn hãy trở thành một người có giá trị. (Albert Eistein) "

Thứ Hai, 26 tháng 7, 2010

3. Traditional Banquets

Before the 1945 Revolution, formal meals in the traditional way were the plague of the old Vietnamese society, particularly in rural areas. Ruled by Confucian etiquette, formal meals held on the occasion of weddings, death anniversaries, even funerals, ritual village banquets, the celebration of promotions brought pain to many a family. Hundreds of guests were invited, each of whom was expected to do the same when his turn came. Communal pressure was such that nobody dared evade those "oral debts". To pay for them, people got into debt. Those in dire straits had to leave their villages.

The Revolution and thirty years of war broke that centuries-old custom, particularly in the liberated areas. The New Life movement launched by Ho Chi Minh urged sobriety, even austerity. Customs related to "eating and drinking in the village" together with expensive family and social celebrations practically vanished.

However, for a dozen years now, they have re-surfaced in the wake of new socio-economic factors. The resurgence of spirituality since the end of the war together with the need to reaffirm national cultural identity in face of modernism and Western cultures have resulted in a return to religion, village and family traditions with the rites and customs in their train. In face, these have been easily restored thanks to the relative improvement of living standards due to the policy of renovation started in 1986. The neuveaux riches, profiteers, as well as those who stubbornly long for the past, have taken the lead.

And so traditional banquets have re-appeared, tolerated and more and more accepted by public opinion, to the detriment of wage-earners and impecunious families. Weddings have no longer been celebrated the New-Life way: a meeting of relatives and friends of the bride and the bridegroom, with only tea, sweets and songs. Formal meals, at home or at some restaurants, are now a must, with aroud one hundred guests, and families of the newlyweds have to spend at least three million Vietnamese dong on one such occasion in the towns. But it must be said that generally speaking, they are not always the losers in this game: gifts brought by the guests, mostly in the form of money in envelopes, fill the deficit, if any. It is the guests who eventually bear the cost. In the season of marriages (autumn) many among my friends lament: "To cope with invitations to three weddings, two-thirds of my pay will be gone this month"-each wedding gift averageing 100,000 Vietnamese dong.

A peasant household may have to labour several decades to pay off its marriage debts. Formal meals held on the occasion of the death anniversariesand funerals, particularly in the countryside, are more and more costly and wasteful.

At traditional banquets held on the occasion of village festival at the communal house trays of victuals are laid out for four persons sitting on mats spread on the floor according to the order of precedence. The rules are that the food should include four plates of boiled meat and four bowl of food cooked in liquids. The unsophicated menu of a co giam gem comprised mostly boiled pork seasoned with vinegar and served with raw vegetables

The numbers of plate should always be an even one. In the towns, a traditional banquet comprises also four solid dishes: spring rolls, fried pork paste, boiled pork paste and sweet-sour salad served on plates, and four liquid dishes served in big bowls: bamboo shoot cooked with far pork, vermicelli, strips of drieds squid, fish bladder. The list may vary a great deal and include rare and expensive items: sea-swallow's nest, abalone, fragrant mushroms, stuffed pigeon, shark fin, etc. Boiled chicken eaten with a little salt mixed with lomen juice and lemon leave cut into fine strips cannot be absent from a dinner offered on the occasion of the death anniversary of a family member. A must item in the wedding banquet is a plate of steamed glutinous rice colored in red, the color of luck and happiness, with momordica juice.

A tray of food served at a traditional banquet is a pleasure for the eyes as well as the palate. This should not be held responsible for the abusive banqueting often perpetrated of "respect for the past" and "repayment of oral debts."

Chủ Nhật, 25 tháng 7, 2010

Cà Rốt, Trứng hay hạt Cà Phê?


Cô con gái hay than thở với cha sao bất hạnh này cứ vừa đi qua thì bất hạnh khác đã vội ập đến với mình, và cô không biết phải sống thế nào. Có những lúc quá mệt mỏi vì vật lộn với cuộc sống, cô đã muốn chối bỏ cuộc đời đầy trắc trở này.


Cha cô vốn là một đầu bếp. Một lần, nghe con gái than thở, ông dẫn cô xuống bếp. Ông bắc ba nồi nước lên lò và để lửa thật to. Khi ba nồi nước sôi, ông lần lượt cho cà rốt, trứng và hạt cà phê vào từng nồi riêng ra và đun lại để chúng tiếp tục sôi, không nói một lời.


Người con gái sốt ruột không biết cha cô đang định làm gì. Lòng cô đầy phiền muộn mà ông lại thản nhiên nấu. Nửa giờ sau người cha tắt bếp, lần lượt múc cà rốt, trứng và cà phê vào từng tô khác nhau.


Ông bảo con gái dùng thử cà rốt. "Mềm lắm cha ạ", cô gái đáp. Sau đó, ông lại bảo cô bóc trứng và nhấp thử cà phê. Cô gái cau mày vì cà phê đậm và đắng.


-Điều này nghĩa là gì vậy cha - cô gái hỏi.

- Ba loại thức uống này đều gặp phải một nghịch cảnh như nhau, đó là nước sôi 100 độ. Tuy nhiên mỗi thứ lại phản ứng thật khác.


Cà rốt khi chưa chế biến thì cứng và trông rắn chắc, nhưng sau khi luộc sôi, chúng trở nên rất mềm.

Còn trứng lúc chưa luộc rất dễ vỡ, chỉ có một lớp vỏ mỏng bên ngoài bảo vệ chất lỏng bên trong. Sau khi qua nước sôi, chất lỏng bên trong trở nên đặc và chắc hơn.

Hạt cà phê thì thật kỳ lạ. Sau khi sôi, nước của chúng trở nên rất đậm đà.


Người cha quay sang hỏi cô gái: Còn con? Con sẽ phản ứng như loại nào khi gặp phải nghịch cảnh.

Con sẽ như cà rốt, bề ngoài tưởng rất cứng cáp nhưng chỉ với một chút đau đớn, bất hạnh đã trở nên yếu đuối chẳng còn chút nghị lực?


Con sẽ là quả trứng, khởi đầu với trái tim mỏng manh và tinh thần dễ đổi thay. Nhưng sau một lần tan vỡ, ly hôn hay mất việc sẽ chín chắn và cứng cáp hơn.


Hay con sẽ giống hạt cà phê? Loại hạt này không thể có hương vị thơm ngon nhất nếu không sôi ở 100 độ. Khi nước nóng nhất thì cà phê mới ngon.


Cuộc đời này cũng vậy con ạ. Khi sự việc tưởng như tồi tệ nhất thì chính lúc ấy lại giúp con mạnh mẽ hơn cả. Con sẽ đối mặt với những thử thách của cuộc đời như thế nào? Cà rốt, trứng hay hạt cà phê?

Thứ Sáu, 23 tháng 7, 2010

Ý Nghĩa Của Các Loài Hoa






Hoa Sen Thể hiện sự cung kính, tôn nghiêm. Hoa dành tặng cho Mẹ, chị gái hoặc người phụ nữ bạn tôn kính




Hoa Thủy Vu Mang ý nghĩa gia đình: "Sự trở về của hạnh phúc"




Hoa lài Mang nghĩa "Tình bạn ngát hương", dành tặng cho người bạn gái thân




Hoa Cẩm Chướng "Tình bạn", hoa dành tặng cho bạn bè




Hoa Phong Lan "Với bạn tôi luôn luôn thành thật"




Hoa Tuy Lip "Lời tỏ bầy của tình yêu", hoa dành tặng cho người bạn gái khi bạn có ý ngỏ lời




Hoa Lilies (hay còn gọi là hoa huệ tây)
"Tình cảm tôi dành cho bạn luôn trong sáng và thật lòng"




Hoa Lưu Ly (hay còn gọi Hoa Forget Me Not)
"Xin đừng quên tôi"




Hoa Bát Tiên "Bạn là người vương giả, thanh cao, và kiêu hãnh "




Hoa thiết mộc lan "Bạn thật quý phái và lộng lẫy "




Hoa Trinh Nữ "E ấp, kín đáo"




Hoa Trà Câu nhắc khéo: "Em nên dè dặt một chút."




Hoa Lay Ơn "Cuộc họp vui vẻ và lời hẹn cho ngày mai."




Hoa Hải Đường Câu hỏi: "Sao bạn lại thờ ơ, lạnh lùng ..?."




Hoa Đồng Tiền Lời chúc mừng "Niềm tin của em đã đạt được."




Hoa Mimosa "Tình yêu mới chớm nở." Hoa dành tặng cho bạn trẻ mới yêu





Hoa Tường Vi Hồng Thông điêp: "Anh yêu em mãi mãi"




Hoa Kim Ngân Thông điệp: "Tôi sẽ là người bạn trung thành"




Hoa Phù Dung Lời an ủi: "Hồng nhan bạc phận"




Hoa Oải Hương "Sự ngờ vực" Nhắc khéo khi bạn thấy nghi ngờ một điều gì đó




Hoa Hồng Tỉ Muội "Em là một đứa em ngoan", hoa dành tặng em gái của anh trai hoặc một lời từ chối tình yêu khéo léo




Hoa Hồng Đỏ "Tình yêu say đắm và nồng nhiệt"




Hoa Hồng Kem "Em là người con gái duyên dáng và dịu dàng."




Hoa Hồng Phấn Lời cảm ơn: "Anh cảm ơn em đã cùng anh trên con đường phía trước"




Hoa Hồng Vàng "Một tình yêu kiêu sa và rực rỡ."




Hoa Hướng Dương "Bạn là niềm tin và hy vọng của tôi"




Hoa Dạ Lan Hương Tình bạn "Thật vui, khi tôi được làm bạn của bạn"

Thứ Năm, 22 tháng 7, 2010

Câu Chuyện Ba Số 3

Tôi vẫn thường điều khiển các buổi hội thảo vào cuối tuần tại Deerhurst Lodge, bắc Toronto. Vào một đêm, cơn bão đã quét ngang một thị trấn nhỏ ở phía bắc chúng tôi, Barrie, giết hại nhiều người và thiệt hại lên đến hàng triệu đô la. Vào đêm Chủ nhật, trên đường về nhà, tôi dừng xe khi chạy ngang qua Barrie. Tôi dừng lại bên đường cao tốc và nhìn quanh. Ngổn ngang. Khắp mọi nơi đều là những căn nhà đổ nát và những chiếc xe bị lật ngược. 

Cũng vào đêm đo, ù Bob Templeton cũng chạy trên con đường cao tốc đó. Cũng như tôi, anh ấy cũng dừng lại để xem sự thiệt hại do thiên tai tạo ra, nhưng suy nghĩ của anh ấy hơn tôi nhiều. Bob là phó chủ tịch của Telemedia Communications, công ty sở hữu một loạt các đài phát thanh ở Ontario và Quebec. Anh ấy nghĩ rằng có thể giúp được những con người khốn khổ này với các đài phát thanh mà công ty anh có.

Đêm kế tiếp, tôi lại điều khiển một hội thảo khác ở Toronto. Bob Templeton và Bob Johnson, một phó chủ tịch khác của Telemedia, cùng đến và họp với nhau. Họ chia xẻ với nhau suy nghĩ rằng chắc chắn có điều gì đó mà họ có thể làm cho người dân Barrie. Sau hội thảo chúng tôi cùng đến văn phòng của Bob. Anh ấy được tất cả mọi người ủy nhiệm trong việc tìm ra phương pháp giúp đỡ mọi người bị thiệt hại sau cơn bão. 

Vào tối thứ Sáu, anh ta gọi toàn bộ cấp lãnh đạo của Telemedia vào phòng của anh. Ở phía trên cùng tấm bảng anh viết ba số 3. Anh nói với các vị lãnh đạo "Bằng cách nào các anh có thể kêu gọi được 3 triệu đô trong 3 giờ và chuẩn bị việc này chỉ trong vòng 3 ngày là chuyển số tiền đó cho người dân Barrie vừa gặp thiên tai?" Cả phòng im phăng phắc. Cuối cùng một người lên tiếng "Templeton, anh điên rồi. Không có cách nào để làm được điều đó." 

Bob nói "Chờ chút xíu, tôi không hỏi các anh là chúng ta có thể hay chúng ta nên. Tôi chỉ hỏi là các anh có muốn không." Tất cả đều nói "Chắc chắn là chúng tôi muốn mà." Anh ấy liền gạch dọc chia đôi tấm bảng ra làm 2 phần. Một bên anh viết "Tại sao chúng ta không thể". Bên kia anh viết "Bằng cách nào chúng ta có thể."

"Tôi sẽ xóa phần 'Tại sao chúng ta không thể.' Chúng ta không phí thời gian cho việc suy nghĩ tại sao chúng ta không thể. Nó vô giá trị. Phía bên kia chúng ta sẽ ghi ra toàn bộ những ý kiến chúng ta nghĩ ra bằng cách nào chúng ta có thể làm được. "Chúng ta sẽ không ra khỏi phòng cho đến khi chúng ta chưa tìm ra cách." Cả phòng lại chìm vào im lặng. 

Cuối cùng một người nói "Chúng ta có thể làm một buổi phát thanh trên khắp Canada."
Bob nói "Đó là ý kiến rất tuyệt," và ghi nó lên bảng.
Trước khi anh viết xong đã có người nói "Anh không thể làm buổi phát thanh trên toàn Canada được. Chúng ta không có các đài radio trên toàn Canada." Đó thật sự là một lời phản đối hợp lý. Họ chỉ có đài tại Ontario và Quebec. 

Templeton nói "Đó là cái ta có thể làm. Ý kiến đó vẫn ở lại." Nhưng thật sự lời phản đối đó rất mạnh vì các đài radio cạnh tranh nhau dữ dội. Họ không chịu hợp tác với nhau và gần như là không thể làm được điều đó nếu chỉ theo cách suy nghĩ thông thường. 

Bất ngờ một người đề nghị "Anh có thể mời Harvey Kirk và Lloyd Robertson, những tên tuổi lớn nhất trong ngành truyền thông ở Canada hướng dẫn chương trình." Từ thời điểm đó, ù biết bao nhiêu ý kiến sáng tạo đã được nghĩ ra nhanh chóng và mạnh mẽ đến kỳ diệu. 

Đó là vào thứ Sáu. Vào thứ Ba họ có một chương trình phát thanh khổng lồ. Có 50 đài phát radio trên toàn quốc đồng ý phát tiếp sóng chương trình. Chẳng ai chú ý đến việc ai có lợi trong chuyện này ngoài chuyện làm sao người dân ở Barrie có được tiền. Harvey Kirk và Lloyd Robertson hướng dẫn chương trình và họ thành công trong việc kêu gọi được 3 triệu đô la cho những người dân gặp thiên tai trong 3 giờ và trong vòng 3 ngày. 

Bạn thấy đó, bạn có thể làm được mọi điều nếu bạn tập trung vào việc bằng cách nào đạt được điều đó hơn là vào những điều tại sao bạn không làm được nó.

Thứ Tư, 21 tháng 7, 2010

Câu chuyện cuộc sống

Câu chuyện này là câu chuyện của các bạn, câu chuyện về cuộc đời của mỗi người chúng ta. Nếu chúng ta, ngay giờ phút này, ngồi nghĩ lại quãng đời đã qua, hồi tưởng lại các ký ức vui, buồn, các tình cảm mà chúng ta đã từng trải qua,... mọi thứ, chúng ta cảm thấy rằng chúng ta thật sung sướng khi đã trải qua những giờ phút đó. Và từ bây giờ, chúng ta cảm nhận rằng cuộc sống của chúng ta là một quyển sách, đó là quyển sách cuộc đời. Quyển sách này chưa kết thúc, chúng ta là những người viết nên trang sách cho chính chúng ta. Và vì thế, hãy hít một hơi thật sâu vào và bắt tay vào việc.

Gia đình: Đã có bao giờ bạn nói với cha mẹ, anh chị em của bạn rằng bạn yêu thương họ chưa? Tôi dám nói là chưa. Chúng ta đôi khi không để ý đến những gì chúng ta có và không trân trọng nó. Chúng ta không tỏ bày sự yêu thương của chúng ta với những người trong gia đình, để rồi một ngày kia, ta phải hối tiếc vì điều đó. Tôi đã mất đi ông bà nội, và cả bà cô nữa. Tôi cảm nhận rất rõ sự hối tiếc trong lòng vì đã không nói lên được lời yêu thương đối với họ. Và bây giờ, họ đã ra đi, tôi không còn cơ hội để làm được điều đó nữa.

Bạn bè: Đã có bao giờ, bạn định nghĩa bạn bè của mình phải là người thế nào chưa? Tôi cũng dám chắc là chưa, và tôi chúc mừng cho bạn vì điều đó. Chúng ta phải có bạn bè, và chúng ta trân trọng tình bạn mà chúng ta đang có với nhau. Tôi rất hân hạnh được làm quen với rất nhiều người bạn, những người đã không hề để ý đến các tính xấu của tôi mà làm bạn và chia sẻ mọi sự với tôi. Và tôi biết rằng khi họ cần, tôi sẽ ở bên cạnh họ.

Tình yêu: Bạn có bao giờ nghĩ người yêu của mình phải là người như thế nào chưa? Tôi dám chắc là rồi. Nhưng có bao giờ bạn nghĩ rằng, người yêu lý tưởng của mình là không hề tồn tại không? Rằng điều bạn cần là một người chia sẻ với mình như một người bạn và hơn thế nữa không. Rằng tình yêu giống như một cuộc chơi kéo co giữa hai người không? Khi bạn và bạn của mình có tranh chấp, nếu cả hai người cùng kéo, sợi dây sẽ đứt, nhưng nếu một người kéo, còn người kia thả, sợi dây sẽ không đứt mà bền vững mãi không. Nhưng bạn hãy nhớ, nếu bạn là người kéo, đừng kéo quá nhiều, vì sợi dây không dài lắm để đối phương thả đâu. Đừng bỏ phí bất kỳ cơ hội nào. Hãy trân trọng những gì mình có.

Hôn nhân: Bạn có bao giờ nghĩ về cuộc sống gia đình chưa? Tôi không dám nói đến điều này nhiều. Vì bản thân mình cũng chưa có kinh nghiệm, nhưng sự tưởng tượng của con người là vô hạn. Bạn có nghĩ rằng hôn nhân sẽ gắn kết hai người lại với nhau không? Rằng bạn phải chấp nhận tất cả mọi thứ của đối phương và chung sống với nhau. Tôi không nghĩ sâu xa đến thế. Tôi chỉ hy vọng rằng mình làm được điều này. Nếu có một lúc nào đó, tôi, hay đối tượng của tôi tức giận, điều duy nhất tôi làm là ôm người đó vào lòng và nói "Anh yêu em" bởi vì tình yêu thì xóa đi các bất đồng và gắn kết chúng ta lại với nhau.

Con cái: Con cái là hình ảnh của chúng ta. Vì thế, hãy cố gắng tạo ra một hình tượng tốt, mà qua đó, chúng ta có thể thấy được kết quả của điều chúng ta làm qua con cái chúng ta. Và chúng ta hạnh phúc về điều đó.

Sự nghiệp: Bạn có bao giờ nghĩ mình sẽ làm gì chưa? Chắc là có rồi bạn nhỉ. Nhưng cho dù gì đi nữa, hãy nhớ lấy nguyên tắc của sự thành công: "Nỗ lực trước, gặt hái sau". Hãy cố chiêm nghiệm điều này. Nó rất quan trọng đối với bạn. Và hãy nhớ, không hề có cố gắng nào là vô ích cả.


Truyện do bạn php81(E-mail: phphuoc81@yahoo.com) gởi đến Làng Xitrum

Thứ Hai, 12 tháng 7, 2010

2. The Traditional Meals in Vietnam

One is reminded of the famous quip by the French gourment, magistrate Brillat Savarin: " The destiny of nations depends on the way they feed themselves "
( Physiology of Taste, 1825 ). The French, reputed to be gourments, turn a " real " meal into a five-act drama:

1- Hors d'oeuvres
2- Entrée
3- Meat and vegetables
4- Dessert
5- Cheese

This, I believe, is the stereotyped model of the West.
The traditional Vietnamese meal  follows other rites, dictated by a hot and humid climate and the civilization of rice marked by the vegetable.

First, the material organization. The Western meal is served on a table. The traditional Vietnamese one is served on a mat, which can be spread on a plank bed or on the floor itself. The dishes are laid on a tray of wood or bronze. In the West, in France in particular, the invitation to eat is: "A table s'il vous plait " ( Take your seat at the table, please ). In Vietnam, one way to say this is: " Take your seat at the tray, please. " About the order of predecence, in the West, the place of the person presiding over the meal may be at the center of the table ( the French way ) or at one end ( the British way ).

In Vietnam, at formal meals eaten at the communal house, on " superior mats " the highest places are reserved for notables, persons with degrees, or elderly ones, while " inferior mats " are for people of no peculiar distinction. Each tray is laid for four people (except in the case of family members ), who sit at the four corners of the mat without any order of predence. At a family meal, the rice pot is always put beside the mother ( of the first daughter-in-law ) whose role is to fill the bowls of the others when they are empty.

Before the familly meal is begun, an invitation must be extended by everyone, except the head of the family: "I vivite you, grandpa, grandma, father, mother, elder brothers, elder sisters... to eat the meal. " To say " eat ", the most formal words is used. Naturally, the youngest member of the family is the one who has to invite the most people. Since the 1945 revolution, and mostly following upheavals caused by thirty years of war, this ritual of invitation has unfortunately been lost in many famillies.

A proverb contains a piece of advice: " eating at a meal, one watches the pot; sitting down, one takes a careful look around. " This means that before asking for more bowls of rice, one must make sure that enough rice remains in the pot; before taking one's seat, one must make sure one is causing no inconvenience to others.

It seems that the tradition of a Western meal, eaten with a fork and knife and served in courses, dates back only to the 16th century. In a Vietnamese meal, all the dishes are laid out on the tray at the start of the meal. Except in the case of formal meals in which the dishes are eaten according to a conventional order, people sharing an ordinary meal can pick food with their chopsticks from any of these plates of bowls. Some reforms in the traditional use of chopsticks were thought necessarily as it was considered contrary to the rules of hygiene: each person is given a small individual dish or bowl to contain his share of brine or sauce; a pair of chopsticks is reserved for serving the food; each person will turn his chopsticks the other way round and use only the " clean " end to pick food from the plates ( that was the method used by soldiers during the first war of resistence, 1945 - 1954 ). However, these reforms were generally not very popular.

In the course of a family meal, if a visitor turns up unexpectedly, he is invited to join in without any need for ceremony. A proverb says that in such a case, one simply brings an extra bowl and an extra pair of chopsticks. With friends, one shares whatever food one has.

In the old day, the same time-table was not applied by people of all walks of life for their meals. In the towns, traders took their lunch at about 9 a.m, and their dinner at about 5 p.m. Civil servants ate a full meal at arout 6 in the morning, lunch at noon, and took practically nothing in the evening. In the countryside peddlers ate their meals very early in the morning and very late in the evening, by lamblight. Hence this folk song:

" Each day I eat my meals twice by lamplight
How can I manage the time to powder my cheeks and lacquer my teeth "

At the time of ploughing and harvesting, hired labourers took their meals before sunrise; lunch was brought to them in the fields; they had nothing in the evening, in most cases.

Meals were frugal. Meat was seldom eaten especially in the countryside. Rice growing claimed most land available and animal husbandry was little practiced. Proteins came from fish, shrimp, mussel, soya bean. Rice, often supplemented by sweet potato, maize, casava, was the staple food. A man convalescing after a long illness was deemed to recover his health as soon as he started to eat rice to make up for missed meals. A fold saying recommended that one should be content with three bowfuls of rice at mealtimes, a change of three shirts to cover one's back. The most common foods were boiled convolvulus with garlic, salted aubergines, boiled vegetables, fried bean curd, fish cooked in brine, etc...

Fish brine frequently accompanies the food served. The dishes are simple and wholesome, and suit the tropical climate. They vary with the seasons. In people's mind, the meal is a symbol of family union. One feels contentment at having just some well-cooked rice and soup. These things are not always available in a restaurant. Meals eaten in the company of one's family are treasured.

Source: " Pages 326-329 " of Wandering through Vietnamese Culture, 7th edition by Hữu Ngọc. Copyright 2007 by Thế Giới Publishers.



Thứ Hai, 28 tháng 6, 2010

Chiếc Cầu Mờ Ảo


Vào cuối chiến tranh thế giới lần II, hàng triệu người Nhật đã cố gắng thoát khỏi Machuria vì Nhật Bản đang trên đà thất bại. Trong cuộc tháo chạy hỗn loạn đó, nhiều trẻ em Nhật bị thất lạc hoặc bị bỏ rơi. Chúng phải sống với những gia đình người Trung Quốc. Từ năm 1981, chính phủ Nhật Bản đã liên tục mời những người đồng hương này về nước và tìm người thân. Trước sau có khoảng 2000 trẻ mồ côi Nhật vào thời đó, hưởng ứng lời mời này. Ông Deng Yunqiao đã 52 tuổi là một cảnh sát đã về hưu thuộc tỉnh Heilungkiang của Trung Quốc đã trở về gần đây. Ông đã nói chuyện với phóng viên Hideko Takayama của tòa soạn Newsweek ở Tokyo.
Đoạn trích của cuộc phỏng vấn như sau:

Takayama: Ông phát hiện ra mình là người Nhật Bản khi nào?
Den: Vào năm 1991, khoảng một tháng trước khi mẹ nuôi của tôi mất. Bà ấy bị đau tim và đã nằm liệt giường trước đó. Bà biết rằng mình chỉ sống được thêm vài ngày nữa. Vào một buổi tối, cha nuôi của tôi cùng vợ tôi và tôi tập trung ở giường của bà. Bà đã khóc dữ dội và lần đầu tiên bà nói cho tôi biết, tôi không phải là con ruột của bà. Bà nói rằng: tôi là một đứa trẻ Nhật mồ côi mà bà nhặt được trong giai đoạn chiến tranh.

Họ đã tìm thấy ông như thế nào?
Cha nuôi của tôi kể rằng, ông nhặt được tôi vào tháng Tám của 51 năm về trước. Ông ấy là nông dân và sống trong một ngôi làng nhỏ có tên là Guang Hua ở tỉnh Heilungkiang, ở gần biên giới với Nga. Ông ấy thức sớm vào một ngày hè nóng nực năm 1945 để đi thăm ruộng. Ông ta đang đi thì nghe tiếng súng nổ. Ông chạy đến chỗ tiếng súng. Đó là một dãy đất sét trắng được san bằng. Ông đã thấy một cảnh tượng thật khủng khiếp: khoảng 30 - 40 xác chết đầy máu. Ông ta đã kể với tôi rằng : đó là những xác chết chết của phụ nữ và trẻ em Nhật. Ông định bỏ chạy về nhà, nhưng ông nghe thấy tiếng khóc của một đứa bé ở một nơi nào đó trong đóng tử thi. Ông tìm thấy một phụ nữ nằm úp mặt xuống đất và phía dưới cô ta là một đứa bé chưa tới một tuổi. Nó vẫn còn sống và đang khóc. Ông ấy nói: hình như người mẹ đã cố gắng dùng cơ thể mình để bảo vệ cho đứa con.

Ông cảm thấy thế nào khi biết được điều này?
Tôi đã đau khổ tột cùng và không thể ngăn được dòng nước mắt. Mẹ nuôi đã đối xử với tôi quá dịu dàng và triều mến nên tôi không bao giờ nghĩ: mình là con nuôi của bà. Bốn năm sau khi tôi sống chung với cha mẹ nuôi, thì họ có con. Cha mẹ nuôi của tôi có hết thảy là ba trai và ba gai. Mặc dù đã có con nhưng họ vẫn tiếp tục đối đãi tôi như là con ruột của họ. Chúng tôi rơi khỏi làng khi tôi lên ba, lúc đó cha tôi bắt đầu làm việc trong nhà máy. Họ đã cho tôi đi học đến khi tôi có bằng cử nhân thương mại.

Cha mẹ nuôi có giữ kĩ vật gì liên quan đến thân thế của ông không?
Cha nuôi đã tìm thấy tôi trong vòng tay của người mẹ bất hạnh khi ông ba mươi tuổi. Ông đã ước mình sẽ có một đứa con trai nên ông muốn nuôi dưỡng tôi như con trai của mình. Cha tôi nói, lúc đó tôi mặc đồ sợi bông và được gói trong bộ đồ Kimono. Tất cả những thứ đó đều bị thấm đầy máu. Cha mẹ tôi đã quẳng chúng đi vì không muốn để lại bất cứ dấu vết gì về tôi. Vì lo ngại rằng: tôi có thể rời xa họ nếu tôi biết tôi là đứa con nuôi. Mặc dù cha mẹ nuôi đã bỏ hết đồ đạc lúc còn bé của tôi nhưng họ đã làm một thứ để luôn luôn nhớ đến nguồn gốc của tôi. Họ đặt tên cho tôi là Yunqiao có nghĩa là " chiếc cầu mờ ảo ". Họ đã nói với tôi là: có một cây cầu nhỏ gần cánh đồng Kaoliang, chỗ mà cha tôi tìm thấy tôi giữa đóng xác chết.

Khi nào ông bắt đầu tìm hiểu về quá khứ của mình?
Hai năm sau khi mẹ nuôi nói cho tôi biết sự thật. Trong những năm đó, tôi không muốn tin những gì họ nói. Đến năm 1933 thì cha của tôi đã hơn tám mươi tuổi rồi, sức khỏe của ông càng ngày càng yếu vì chứng cao huyết áp và bệnh tim. Ông muốn tôi đi tìm cha mẹ ruột của mình trong lúc ông vẫn còn khỏe. Tôi đã suy nghĩ cẩn thận về vấn đề đó. Lúc đó, tất cả mọi chuyện xảy ra quá nhanh. Tôi có rất nhiều câu hỏi trong đầu: tôi là ai? tên họ là gì? Trời ơi! Tôi thậm chí không thể trả lời được những câu hỏi đó. Mẹ ruột đã bị giết nhưng tôi có linh cảm rằng cha ruột của tôi vẫn còn sống. Vì thế, tôi đã nộp đơn xin chính phủ Trung Quốc điều tra và họ đã chứng mình rằng: tôi là một trẻ em Nhật mồ côi năm đó.

Họ đã chứng minh điều ấy như thế nào?
Đó là một cuộc điều tra kĩ lưỡng, được thực hiện bởi trung ương và kết hợp với tỉnh Heilungkiang. Họ đã đến Guang Hua, nơi cha mẹ nuôi của tôi từng sống và hỏi dân làng những chuyện đã xảy ra 51 năm về trước. Nhiều người đến và nói với những thanh tra rằng: tôi là đứa trẻ mồ côi năm ấy. Tôi đã viếng thăm cánh đồng Kaoliang và đã thấy nơi mà người mẹ xấu số của mình được tìm thấy.

Trong một vài trường hợp thì những người đàn ông Nhật đã bắn phụ nữ và trẻ em của dân tộc mình, vì những người này gây trở ngại cho việc tẩu thoát của họ. Ai đã giết mẹ ông?
Lúc đó cha nuôi không thấy chính xác những gì đang xảy ra ở đó, nhưng dân làng ở đó nói rằng: chính những người lính Nhật Bản đã bắn những người vợ và con của họ.

Một người phụ nữ ở Nagano nghĩ ông là em trai của bà ta. Cuộc gặp gỡ ra sao?
Bà ấy nói với tôi về nơi mà bà nghĩ em mình đã chết. Không may là, nơi đó không phải là chỗ mà tôi được tìm thấy. Bà ấy cũng đề cập đến thời gian xảy ra sự việc, nhưng nó không khớp với trường hợp của tôi. Như thế là, bà đành chấp nhận là bà đã nhìn lầm. Nhưng tôi khôn quá buồn vì chuyện đó đã xảy ra quá lâu rồi và bây giờ muốn tìm hiểu tất cả là chuyện không dễ dàng. Nhưng tôi muốn tiếp tục tìm kiếm gia đình và những người thân khác của tôi.

Thứ Bảy, 26 tháng 6, 2010

1. Our Bowl of Rice

The Vietnamese expression " ăn giả bữa " means to eat with a vengeance to make up for what one has missed. This is very true with a sick person: as soon as he feels an urge for rice again he is sure to be on the way of recovery. His restored physio-psychological equilibrium means his reinforcement in the cultural environment of rice.

Vietnam belongs to the rice civilization whose habitat coincides with the natural dwelling of the bamboo. In his well documented La terre et l'homme en Extrême Orient ( Land and People of the Far East ), French geographer Pierre Gourou analyses the characteristic traits of rice-planting peoples of East Asia between the Mekong River and the confluence of the Amour and Oussouri Rivers. They are of an agricultural civilization founded on cultivation rather than on animal husbandry, marked by a monsoon climate, an advanced agricultural technique, a great rural population density, an aspiration for sobriety and a communal spirit required by the village cell and fostered by Confucianism.

Ninety percent of the world's rice area is concentrated in Asia, where rice production feeds forty percent of the globe's population.

The first traces of rice culture in Vietnam date back to the Mesolithic culture of Hoa Binh-Bac Son, 10,000-8,000 years before the Christian era. In the Bronze Age ( the first millenary B.C ) rice cultivation developed to a high level, which led to a surge in the Red River civilization. Vietnam is also marked by traits common to other rice-growing countries in Southeast Asia-the consumption of betel, the house on stilts tattooing, the lacquering of teeth, aquatic games, the bronze drum, kite flying, the water-wheel, and other traits.

 The word " rice " may be misleading because in Vietnamese it may mean rice plant, paddy, husked rice, cooked rice or steamed glutinous rice.

Rice, the staple food in Vietnam, comes in two main kinds-the hard or ordinary rice and the sticky rice. Hard rice came much later but it has surpassed glutinous rice in importance because it can grow on much less fertile soil while yielding much more. In the plains, glutinous rice is used mainly as votive offerings or for cakes.

The two traditional crops are the Lúa Chiêm in the fifth lunar month and Lúa Mùa in the 10th lunar month, which is the principal crop.

Because of frequent floods, drought and pests, rice planters in Vietnam must show great skills, endurance and patience in all their operations, ploughing sowing, weeding, replanting, irrigation, havesting, threshing, winnowing, husking and polishing (making rice clear).

Innumberable are rice-inspired stories, proverbs, expressions and songs which speak of the farmer's pains, love and hopes.

" You who taste a bowl of rice,
Do you feel  in the fragrant grains,
All the pains I've taken to grow then?"

" Take it easy, girl,
Or you 'll waste all that golden moonlight
While scooping water from the field. "

" Let's till the fill the land and replant the seedlings.
Today's pains will pay in tomorrow's wealth. "

Source: " Pages 325-326 " of Wandering through Vietnamese Culture, 7th edition by Hữu Ngọc. Copyright 2007 by Thế Giới Publishers.
Translate the text above into Vietnamese at Nhận Xét (Comments).

Thứ Tư, 23 tháng 6, 2010

Cuộc Đời Sĩ Tử (tt.1)

Bạn có bao giờ nghe thuật ngữ " COCC " chưa? Đó là những chữ viết tắt từ cụm từ " Con Ông Cháu Cha . " Đây là thuật ngữ của những tân kỹ sư, cử nhân mới ra trường và đang trong giai đoạn tìm việc làm. Nó có nghĩa là: cho dù bạn học giỏi cở nào đi chăng nữa, nếu thiếu vitamin COCC thì bạn khó mà tìm được công việc tốt trong thời buổi này. Thật không may, đối với tiêu chuẩn này, thì bạn không thể có được chỉ với tinh thần chăm chỉ học tập của mình. Nó chỉ đến qua 2 con đường: gia đình và mối quan hệ xã hội của bạn.

Con đường thứ nhất thì hên - xui quá, bạn làm sao mà điều khiển được, mình sẽ sinh ra trong loại gia đình nào: có quan hệ rộng với tầng lớp thượng lưu hay không biết ai trong tầng lớp đó hết. Con đường thứ hai thì bạn có thể tạo ra nó. Đó chỉ đơn giản là: ngoài giờ học bạn làm gì, quen biết ai và những người xung quanh có đánh giá bạn cao hay không.

Để cho dễ hiểu, tôi xin kể về mình một chút. Chiều nào tôi cũng đi đá bóng, do đó tôi quen với nhiều cầu thủ nghiệp dư cùng chơi với tôi. Trong số đó, thì có một người rất quan trọng với tôi. Đó chính là thầy tôi. Ông ấy chơi đá bóng với tôi và biết tôi là một trong những sinh viên của mình nên thầy đặc biệt chú ý tôi và thân thiện với tôi. Ngoài chuyện học và chơi thể thao thì thỉnh thoảng tôi cũng đi nhậu với thầy và bạn của thầy. Rồi ngày qua ngày chúng tôi trở thành bằng hữu lúc nào không hay.

Khi tôi ra trường, thầy đã giới thiệu tôi với nhiều công ty lớn và nói thêm cho tôi rằng: ngoài chuyên ngành về công nghệ Giống Động Vật thì tôi rất giỏi ngoại ngữ. Thế là, tôi đã có cơ hội được phỏng vấn với nhiều công ty nổi tiếng. Xin nói thêm rằng ở những công ty lớn, lúc nào cũng có mấy trăm hồ sơ xin việc đang chờ. Nhưng chỉ những hồ sơ được giới thiệu mới được phỏng vấn, và sau đó được tuyển dụng thôi. Như bạn thấy đó, cơ hội này không phải ai cũng có, mặc dù về kết quả học tập thì có nhiều người giỏi hơn tôi.

Còn nhiều người khác như bạn bè tôi, anh chị học trước tôi thì lận đận lắm! Vì cần việc làm nên họ không ngại làm những công việc nặng nhọc, những công việc lương thấp, và những công việc không dính líu gì đến chuyên ngành được đào tạo. Đó là những người chăm chỉ, học hành nghiêm túc từ lớp mầm, lớp lá cho đến khi tốt nghiệp THPT, rồi được tuyển vào đại học, được đào tạo tới nơi tới chốn. Thế mà bây giờ phải ngậm ngùi chờ một cơ hội tốt hơn để thay đổi cuộc đời. Khi thấy những gương mặt này thì bạn sẽ tiếc rẻ cho họ, còn họ thì thấy có quá nhiều bất công trong cuộc đời này.     " Người làm được việc thì không có việc để làm, còn người có việc làm thì lại không làm được việc. " (mời xem tiếp)

Chủ Nhật, 20 tháng 6, 2010

Cuộc Đời Sĩ Tử

Đã lâu rồi, mỗi khi tháng 7 về thì cũng là lúc những tân tú tài lên kinh ứng thí (bây giờ là các thành phố lớn). Tất cả họ đều háo hức cho kỳ thi "vận mệnh cuộc đời". Những tân tú tài này vẫn còn ngây thơ lắm, họ chưa biết chút gì về cuộc sống ở những nơi xa đó, đặc biệt là những học sinh ở tỉnh nhỏ. Từ bé đến lớn chỉ biết có thầy cô, bạn cùng lớp và cha mẹ. Sau kì thi, số ít được báo tin là đỗ và số nhiều thì chẳng có tin tức gì (hỏng). Vậy là đã rõ ràng, người siêng năng, chịu khó học tập sẽ có một chỗ trong trường đại học và số còn lại sẽ đi những con đường khác. Lúc này, các bạn đừng vội kết luận rằng: những người đỗ sẽ huy hoàng còn những kẽ hỏng sẽ điêu tàn. Để tôi nói cho bạn biết rõ : ai khổ hơn ai? ai buồn hơn ai? trong các phần sau.

Đầu tiên tôi xin trả lời câu hỏi "ai buồn hơn ai?". Trong mỗi cuộc thi bây giờ, không phải để chọn ra người tài nữa, mà là loại ra người bất tài. Có nghĩa là phần đông sẽ phải dừng bước trước cổng đại học, chỉ có số ít mới được vào học và chịu cực khổ ở đó. " Cực khổ hả "; " ùm ". Cực lắm! Học đại học sẽ không sung sướng như khi nhận được tin là thi đậu đại học đâu! Học ở trường ĐH chỉ có 4 - 5 năm làm sao học hết được kiến thức của cả một ngành! Do đó, bạn phải làm việc khá vất vả để mong có ngày ra trường. Trong thời gian học ở trường ĐH, bạn phải sống xa gia đình thân thương, làng quê quen thuộc để sống ở một nơi đông đúc hơn và vô tình hơn. Ở đó bạn phải tự lo cho mình, những chuyện như: ăn uống, học hành và cả đi chơi khuya nữa sẽ không bị ai la rầy hay cản trở bạn cả. Bạn phải nhận thức được cái gì có lợi và cái gì có hại cho bản thân. Học hành căng thẳng, sống trong môi trường mới là những thách thức cho bất cứ ai phải đối mặt với chúng lần đầu tiên. Có khi kết quả học tập xấu, bạn bè xa lánh và thậm chí còn bị mất tiền hay phương tiện đi lại như: xe và điện thoại nữa. Thì bạn sẽ nếm được nỗi khổ của những cô, cậu chân quê lên tỉnh học. Cái sứ sở gì mà đi đâu cũng đông nghịt người, mà không ai biết ai, không ai chào hỏi ai cả. Nhưng tiền bạc và phương tiện thì để hở một chút là bị mất tiêu liền.

Cuối cùng thì ngày hạnh phúc cũng đến, đó là ngày nhận bằng tốt nghiệp ra trường. Cứ tưởng cuộc đời từ nay sẽ ấm êm, nhưng không phải vậy! " Tôi là người con ưu tú của đất nước, từ lớp 1 đến lớp 12 tôi là học sinh giỏi, ra trường với tấm bằng ĐH loại khá và Ngoại Ngữ, Tin Học đầy đủ. Tại sao tôi lại không được tuyển dụng? ", Bạn tôi hỏi nhà tuyển dụng. " Trời ơi, anh ơi! tôi cần những người có kinh nghiệm cho vị trí này. " Thật ra, kinh nghiêm chỉ cần cho những vị trí quản lý như trưởng phòng trở lên thôi. Bạn tôi ứng tuyển vào vị trí nhân viên bình thường ở một công ty lớn thì cần gì kinh nghiệm? Mà vị trí đó thì người có kinh nghiệm sẽ không làm. Có một lí do khác trong việc tuyển dụng này. (mời xem tiếp)

Thứ Bảy, 19 tháng 6, 2010

Giới Thiệu

Các bạn thân mến!
Đây là blog để trao đổi kiến thức về văn hóa Việt Nam. Blog này tôi viết về 2 chủ đề: Văn Hóa Việt Nam ( tài liệu bằng tiếng Anh ) và Chuyện Thường Ngày ( những sự kiện đang và sẽ diễn ra ). Mục VHVN thì tôi viết vào sáng chủ nhật ( các bạn hãy dịch trong phần Nhận Xét ) và mục CTN thì tôi rảnh lúc nào thì viết lúc ấy. Để tìm những bài viết liên quan của một bài nào đó, các bạn click vào nhãn của bài định xem. Hiện nay, blog này có các nhãn sau: Chuyện Thường Ngày, Dishes and Drinks, Truyện Dịch Anh-ViệtVăn Hóa Việt Nam. Sau khi đọc bài xong thì bạn nên để lại vài câu nhận xét cho bài viết ( hay chỗ nào và dở chỗ nào? ) để người viết rút kinh nghiệm và sau đó viết tốt hơn. Bạn có thể nhận xét với tên gọi " nặc danh " hay bạn tạo một địa chỉ gmail ở  đây https://www.google.com/accounts/ServiceLogin và dùng tên đăng nhập để nhận xét cho bài viết. Ngoài ra, blog cũng cung cấp cho các bạn một kho tài liệu tiếng Anh dùng để nâng cao trình độ và thi các chứng chỉ quốc tế như: TOEFL và IELTS trong mục Download. Tiếp theo, blog cũng có đường link dẫn đến trang web Vietnamnet. Ở đây, các bạn sẽ đọc báo về tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của Việt Nam bằng tiếng Anh. Sau cùng, tôi xin giới thiệu đến các bạn trẻ một kho sách nói ( phát thanh viên đọc sách cho mình nghe ). Đây là những cuốn sách dạy cho chúng ta những kĩ năng như: làm giàu, ứng sử trong cuộc sống, kinh nghiệm làm giàu của các tỉ phú như: Bill Gate, Ford, Honda..., binh pháp của các vĩ nhân như: Gia Cát Lượng, Tôn Tẫn, Tư Mã Thiên..., và nhiều giáo trình đại học đủ các chuyên ngành. Nếu các bạn thấy căng  thẳng thì vào mục PhimHay để xem những bộ phim có phụ đề do Mỹ, Hồng Kông và những nước khác sản xuất.  Ở cuối trang là bộ sưu tập ảnh của các bạn lớp cử nhân Anh Văn. Chúc các bạn luôn thành công trong học tập và cuộc sống! Chào thân mến và đoàn kết!

$ Chú ý: Chỉ đăng 1 bài dịch hay nhất. Trong tương lai sẽ có phần thưởng cho bản dịch tốt nhất. 

_ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ 
Nguyễn Hoàng Sang
Phone: 0939 85 26 95
Email: nhsang.biologist@gmail.com
            nhsang.biologist@yahoo.com
          

Comments gần đây!